cục vàng. May túi ba gang, đem đi mà đựng"; rồi chim bay vụt đi.
Hai vợ chồng người anh mừng quá, cuống quýt vái theo chim,
rồi bàn nhau may túi, cãi cọ om sòm. Mới đầu, hai người định may
thật nhiều túi, sau lại sợ chim không đưa đi, nên rút cục cũng chỉ
may một cái túi như người em, nhưng may to gấp ba, mỗi chiều chín
gang, thành một cái tay nải lớn.
Sáng hôm sau, chim hạ cánh xuống sân trước túp lều tranh.
Người anh đang ăn, thấy chim bay đến, bỏ cả ăn hấp tấp chạy ra, tay
xách cái túi lớn trèo tót lên lưng chim, còn người vợ vái lấy vái để
chim thần. Chim cất cánh bay bổng lên mây xanh, qua núi qua biển
cả, rồi cũng hạ cánh xuống cái đảo khi trước.
Trên lưng chim bước xuống, người anh hoa cả mắt về những
ánh ngũ sắc ở các loại kim cương và ngọc quý chiếu ra. Đến khi vào
hang, người anh lại càng mê mẩn tâm thần, quên cả đói cả khát, cố
nhặt vàng và kim cương cho thật đầy tay nải, lại buộc đầu ống quần
và tay áo cho thật chặt rồi nhồi nhét đầy cả hai tay áo và hai ống
quần, đến nỗi nặng quá, chàng ta cố kéo lê từng bước mà vẫn chưa ra
được khỏi hang.
Chim đợi lâu quá, chốc chốc lại kêu lên vài tiếng vang cả đảo,
thúc giục anh chàng ra về. Mãi gần chiều, anh ta mới kéo được cái
tay nải đầy vàng và kim cương đến chỗ chim đang đợi. Muốn cho
khỏi rơi, anh ta đặt tay nải dưới cánh chim, rồi lấy dây thừng buộc
chặt tay nải vào lưng chim và vào cổ mình.
Chim vỗ cánh bay lên, nhưng vì nặng quá, mới bay lên khỏi
mặt đất một ít lại sa xuống. Sau chim cố gắng đạp hai chân thật
mạnh xuống đất, vươn cổ bay bổng lên. Anh chàng ngồi trên lưng
chim khấp khởi mừng thầm, cho là chỉ trong giây phút mình sẽ về
đến nhà, sẽ có nhà cao cửa rộng, vườn ruộng khắp nơi, tiêu pha hết
đời thật hoang toàng cũng không hết của.
Lúc ấy, chim đã bay trên biển cả. Trời trở gió, những con sóng
xám xì cất cao lên bằng mấy nóc nhà. Chim bay ngược gió rất là nhọc
mệt, cổ gập hẳn xuống, hai cánh mỗi lúc một yếu dần. Túi vàng lớn
thốt nhiên bị gió hất mạnh vào cánh chim. Chim buông xuôi hai
cánh, đâm bổ từ lưng trời xuống biển. Chỉ trong chớp mắt, người anh
bị sóng cuốn đi, cái túi lớn và những ống quần, tay áo chứa đầy vàng
và châu báu dìm anh ta rất mau xuống đáy biển.
Còn chim chỉ bị ướt lông, ướt cánh một lúc, rồi chim lại vùng
lên khỏi mặt nước, bay về núi, về rừng.


CÂY NÊU NGÀY TẾT
Ngày ấy, không biết từ bao giờ và cũng không biết bằng cách gì,
Quỷ chiếm đoạt tất cả đất nước. Người chỉ ăn nhờ ở đậu và làm rẽ
ruộng đất của Quỷ. Quỷ đối với người ngày càng quá tay. Chúng dần
tăng số phải nộp lên gấp đôi và mỗi năm mỗi nhích lên một ít. Cuối
cùng chúng bắt Người phải nộp theo một thể lệ đặc biệt do chúng
nghĩ ra là "ăn ngọn cho gốc". Người không chịu. Chúng dùng áp lực
bắt phải theo. Vì thế, năm ấy sau vụ gặt. Người chỉ còn trơ những rạ
là rạ. Cảnh tượng xơng bọc da thê thảm diễn ra khắp mọi nơi bên
cạnh bọn Quỷ reo cười đắc ý.
Phật từ phương Tây lại, có ý định giúp người chống lại sự bóc
lột tàn nhẫn của Quỷ. Sau mùa đó, Phật bảo Người đừng trồng lúa
mà cào đất thành luống trồng khoai lang. Người cứ y lời làm đúng
như lời Phật dặn. Quỷ không ngờ Người đã bắt đầu có mưu kế chống
lại mình nên cứ nêu đúng thể lệ như mùa trước: "Ăn ngọn cho gốc".
Mùa thu hoạch ấy, Quỷ rất hậm hực nhìn thấy những gánh
chạy về nhà Người đổ thành từng đống lù lù, còn nhà mình chỉ toàn
những dây và lá khoai là những thứ không nhá nổi. Nhưng ác nỗi,
thể lệ đã quy định, chúng đành cứng họng không chối cãi vào đâu
được.
Sang mùa khác, Quỷ thay thể lệ mới là "Ăn gốc cho ngọn". Phật
bảo người lại chuyển sang trồng lúa. Kết quả Quỷ lại hỏng ăn.
Những hạt lúa vàng theo người về nhà, còn rạ phó mặc cho Quỷ. Quỷ
tức lộn ruột nên mùa sau chúng tuyên bố "Ăn cả gốc lẫn ngọn". Lần
này Quỷ nghĩ:
- Cho chúng nó muốn trồng gì thì trồng, đằng nào cũng không
lọt khỏi tay chúng tao.
Nhưng Phật đã bàn với Người thay đổi giống mới. Phật trao cho
Người hạt giống cây ngô để gieo khắp mọi nơi mọi chỗ.
Năm ấy có một lần nữa, Người sung sướng trông thấy công lao
của mình không uổng. Trong nhà Người thóc ăn chưa hết thì từng
gánh ngô đã tiến về chứa từng cót đấy ăm ắp. Về phần quỷ lại bị một
vố cay chua, uất ức hàng mấy ngày liền. cuối cùng Quỷ nhất định bắt
Người phải trả tất cả ruộng đất không cho làm rẽ nữa. Trong bụng
chúng nghĩ:
- Thà không được cái gì cả, còn hơn là để cho chúng nó ăn một
mình.
Phật bảo Người điều đình với Quỷ cho tậu một miếng đất vừa
bằng bóng một chiếc áo cà sa. Nghĩa là Người sẽ trồng một cây tre
bao nhiêu diện tích ở mặt đất là đất của Người sở hữu ở đó. Ban đầu
Quỷ không thuận nhưng sau chúng nó suy tính thấy đất tậu ít mà
giá rất hời bèn nhận lời:
- ồ! Bằng chiếc áo cà sa có là bao nhiêu.
Chúng nó nghĩ thế. Hai bên làm tờ giao ước: Ngoài bóng tre là
đất của Quỷ, trong bóng tre là đất của Người.
Khi Người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn, tung áo cà
sa bay toả ra thành một miếng vải tròn. Rồi Phật hoá phép làm cho
cây tre cao vút mãi lên, đến tận trời. Tự nhiên đất trời trở nên âm u:
bóng của áo ca dần dần che kín khắp cả mặt đất. Bọn Quỷ không ngờ
có sự phi thường như thế; mỗi lần bóng áo lấn dần vào đất của
chúng, chúng phải dắt nhau lùi mãi lùi mãi. Cuối cùng Quỷ không có
đất ở nữa, phải chạy ra biển đông. Vì thế người ta mới gọi là Quỷ
Đông.
Tiếc vì đất đai hoa màu đều thuộc về tay Người, Quỷ rất hậm
hực, cố chiêu tập binh mã vào cướp lại. Lần này Người phải chiến
đấu với Quỷ rất gay go vì quân đội của Quỷ có đủ một bầy ác thú như
voi, ngựa, chó, ngao, bạch xưà, hắc hổ, v.v... rất hung dữ. Phật cầm
gậy tầm xích đánh giúp Người làm quân của Quỷ không tiến lên
được.
Sau mấy trận bất lợi, Quỷ bèn cho quân đi dò xem Phật sợ gì.
Phật cho chúng biết là sợ hoa qủa, oản chuối và cơm nắm, trứng luộc.
Đối lại Phật cũng dò hỏi và biết quân của Quỷ chỉ sợ độc có mấy thứ :
máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột.
Lần giáp chiến sau đó, quân của Quỷ đem không biết cơ man
nào là hoa quả đến ném Phật, Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi
đem máu chó vẩy khắp nơi. Quân của Quỷ thấy máu chó, sợ hoảng
hồn bỏ chạy.
Lần thứ hai, quân của Quỷ lại đem oản chuối vào ném quân
Phật. Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi giã tỏi phun vào quân
địch. Quân của Quỷ không chịu được mùi tỏi, nên cũng cắm đầu chạy
biệt tích.
Lần thứ ba, quân của Quỷ lại đem cơm nắm, trứng luộc vào
ném quân Phật. Người ta tha hồ ăn và theo lời Phật dùng vôi bột
vung vào Quỷ. Người lại lấy lá dứa quất vào chúng. Quỷ chạy không
kịp, lại bị Phật bắt đày ra biển đông. Ngày Quỷ già, Quỷ trẻ, Quỷ
đực, Quỷ cái cuốn gói ra đi, bộ dạng của chúng vô cùng thiểu não.
Chúng rập đầu sát đất cố xin Phật thương tình cho phép một năm
được hai ba ngày vào đất liền thăm phần mộ của tổ tiên chưa ông
ngày trước. Phật thấy chúng khóc váng cả lên mới thương hại hứa
cho.
Vì thế, hàng năm cứ đến ngày tết Nguyên Đán là ngày Quỷ vào
thăm đất liền, thì người ta theo tục trồng nêu để cho Quỷ không dám
bén mảng vào chỗ người đưang ở. Trên nêu có khánh đất, mỗi khi gió
rung thì có tiếng động phát ra để lưuôn nhắc bọn Quỷ nghe mà
tránh. Cũng trên đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đưa mỏ hái để
cho Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn
về phía đông và rắc vôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm
cửa Quỷ.
Có câu tục ngữ:
Cành đưa lá dứa treo kiêu (cao)
Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà.
Quỷ vào thì Quỷ lại ra.
Cành đưa lá dứa thì ta cứa mồm
Ngày xưa người ta còn tin rằng những lúc cần đuổi quỷ như khi
có dịch tễ chẳng hạn, thì treo một nắm lá dứa ở trước ngõ hay vẩy
máu chó khắp nơi cho Quỷ khỏi quấy. Đàn bà thường buộc tỏi vào
giải yếm là cũng có một mục đích gần như vậy.


CÂY TRE TRĂM ĐỐT
Đời xưa có một trưởng giả gian ác, xảo trá. Hắn ta dùng đủ mọi
thủ đoạn để bóc lột người ở và người làm thuê cho nó, nhờ đó mà hắn
trở nên giàu có nhất vùng. Hắn có người con gái út, có nhan sắc, chưa
chồng. Trong nhà có anh Khoai, ở với hắn từ thuở nhỏ, làm đủ trăm
công nghìn việc nhọc nhằn. Năm anh lớn lên, được mời tám, đôi
mươi, vì sợ anh đi nơi khác, một hôm hắn mới gọi anh lên bảo:
- Mày chịu khó ở với tao làm lụng cho thật giỏi, thức khuya,
dậy sớm, siêng năng, rồi tao gả cô út cho mày. Anh Khoai nghe nói
tưởng thực, mừng lắm, từ đó lại làm việc gấp năm gấp mời lần. Được
ba năm, cô út bấy giờ đã lớn lắm rồi. Nhân trong vùng có một cai
tổng khét tiếng giàu đến hỏi cô con gái cho con trai nó, lão trưởng giả
nhận lời chuẩn bị làm lễ cưới linh đình.
Thấy mình bị lừa, anh Khoai tức lắm, lên gặp lão trưởng giả để
hỏi chuyện. Anh bảo:
- Ông đã hứa gả cô út cho tôi, sao bây giờ lại nuốt lời mà gả cho
kẻ khác? Hắn ta hầm hầm nổi giận, định đưánh cho anh một trận,
song nghĩ lại, hắn lại thôi, hắn trả lời anh rằng.
- ấy! Tao thấy rằng năm nay cô út cũng đưã lớn rồi, cho cưới đi
thì vừa. Tao chuẩn bị đám cưới là chuẩn bị cho mày đấy chứ! Nhưng
mày mà muốn cưới ngay thì mày phải làm cho tao cái việc này: mày
chịu khó lên rừng tìm lấy một cây tre có một trăm đốt, mày gánh về
đây để vót đũa dùng trong cỗ cưới, thì tao cho mày cưới cô út ngay.
Khoai thật thà tin, lập tức vác dao lên rừng. Nhưng hết ngày nọ
đến ngày kia, hết khu rừng này đến khu rừng khác anh tìm đâu cũng
không ra cây tre có đủ trăm đốt. Thất vọng, anh ngồi trong rừng khóc
hu hu.
Bỗng anh thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ, da đỏ hồng hào,
mắt sáng, miệng tơi, khoan thai chống gậy đến gần anh hỏi:
- Làm sao con khóc? Khoai tha rõ đầu đuôi câu chuyện. Ông lão
nghe xong, bảo rằng:
- Con đi chặt cho đủ một trăm đốt tre, mang về đây cho ta. Anh
nghe lời, vác dao chặt bên tả, bên hữu, chỉ một loáng đã đủ một trăm
đốt tre.
Ông già khẽ bảo: "Khắc nhập! Khắc nhập!".
Vừa đọc xong, thì trăm đoạn tre đang nằm ngổn ngang, tự
nhiên chạy tới với nhau, nối liền lại thành một cây tre đủ trăm đốt.
Khoai mừng quá, toan sụp xuống lạy tạ ông lão nhưng ông cụ
đã biến đi đâu mất rồi. Anh mới biết ông là Bụt.
Anh ghé vai định vác tre về, nhưng không làm thế nào mà đi
được, vì tre dài quá, nó cứ vướng vào cây này cây khác gi